Hiểu bản thân: việc của riêng não bộ ?
- Thanh Hang

- Dec 8, 2018
- 13 min read
Updated: Dec 21, 2018
Để trả lời câu hỏi này, trước tiên chúng ta cần hiểu cách thức hoạt động của não bộ và cách thức nó tạo ra tâm thức của chúng ta về thế giới nội quan (cái tôi nói chung) và thế giới bên ngoài.

Đại sư Yongey Mingyur Rinpoche đời thứ 7 giải thích như sau
1. Cơ chế hình thành cảm xúc, hành vi và cảm nhận về bản thân
Hàng tỷ nơron trong bộ não con người được phân chia thành ba lớp dựa theo chức năng của chúng và mỗi lớp đều đã phát triển qua hàng trăm ngàn năm khi các loài sinh vật tiến hóa và đạt đến những cơ chế hoạt động não bộ ngày càng tinh vi hơn để sinh tồn.
Lớp đầu tiên và lâu đời nhất, được gọi là cuống não (brain stem), là một nhóm tế bào hợp lại có dạng như bóng đèn, và bắt đầu ngay trên bên trên đầu cột sống. Lớp này cũng thường được gọi là não bò sát, vì nó tương tự với cấu trúc não của nhiều loài bò sát. Nhiệm vụ chính của phần não bò sát là điều hòa những chức năng cơ bản và không chủ ý như hô hấp, trao đổi chất, nhịp đập của tim và sự tuần hoàn. Nó cũng điều khiển những phản ứng thường được gọi là kiểu phản ứng ‘bỏ chạy hay chống trả’ , hoặc ‘phản ứng giật mình’, một phản ứng tự động thúc đẩy ta phải nhận hiểu bất kỳ sự đối đầu hay sự kiện bất ngờ nào - chẳng hạn như một tiếng động lớn, một mùi ngửi thấy lạ, một con vật gì bò trên cánh tay hay cái gì đó cuộn tròn trong một góc tối - là một mối đe dọa tiềm tàng. Khi đó hoàn toàn không có sự chủ ý, chất adrenalin tự nhiên bắt đầu truyền đi khắp cơ thể làm nhịp tim tăng nhanh và cơ bắp căng thẳng.
Nếu mối đe dọa được ghi nhận là vượt quá khả năng chống lại, ta sẽ bỏ chạy. Nếu nghĩ mình có thể chiến thắng mối nghe dọa đó, ta sẽ chống trả. Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng kiểu phản ứng tự động như vậy - chọn lựa giữa chạy hay chống - có ảnh hưởng lớn lao đến sự sinh tồn như thế nào.
Phần lớn các loài bò sát thường có khuynh hướng đối đầu hơn là hợp tác và chúng không có khả năng bẩm sinh nuôi dưỡng con cái. Sau khi đẻ trứng, thông thường nhất là con mẹ sẽ bỏ tổ mà đi hoặc có khi còn ăn cả con mình.
Não của các loài động vật có xương sống - như các loài chim và động vật có vú - một sự tiến hóa đáng kinh ngạc. Để chăm sóc và đảm bảo sự tồn tại của giống nòi, lớp thứ hai của não bộ của chủng loại này phát triển thêm một lớp não gọi là ‘vùng hệ biên’ hay ‘viền não’ (limbic region). Lớp não này bao bọc quanh phần cuống não như một cái mũ chụp, bao gồm một loạt những kết nối nơron theo chương trình được ấn định trước để kích thích, khơi dậy sự thôi thúc khuynh hướng nuôi dưỡng con, nghĩa là cung cấp thức ăn, bảo vệ và dạy cho chúng những kỹ năng sinh tồn thiết yếu thông qua sự chơi đùa và những luyện tập khác.
Những lộ trình thần kinh tinh vi hơn này cũng cung cấp cho các loài động vật mới khả năng nhận biết một loạt cảm xúc phong phú hơn chỉ là chỉ đơn thuần là ‘chạy hay chống’. Thí dụ động vật có vú không những có thể phân biệt tiếng kêu đặc trưng của con mình mà còn có thể nghe ra những cảm xúc khác biệt trong đó như nỗi đau đớn, vui thích, đói bụng, v.v .. Hơn thế nữa, vùng hệ biên còn cho phép chúng có thể đọc hiểu ý định của các động vật qua các tư thế, cách thức di chuyển, vẻ mặt hay ánh mắt nhìn, và ngay cả qua những mùi hương tinh tế, hay các hoạt chất tương tác (pheromone). Nhờ khả năng xử lý các loại tín hiệu đa dạng và tinh vi như thế nên các loài động vật có vú và chim chóc có thể thích ứng linh hoạt hơn với sự thay đổi môi trường sống, chuẩn bị nền tảng cho sự học hỏi và ký ức.
Phần hệ biên hay viền não có những cấu trúc và khả năng rất nổi bật và chúng ta sẽ khảo sát kỹ hơn, khi đề cập đến vai trò của cảm xúc. Tuy nhiên, có hai trong số những cấu trúc ấy cần được chú ý nhất là vùng hồi hải mã (hippocampus) nằm trong thùy thái dương (temporal lobe), nghĩa là ngay đằng sau thái dương và hạch hạnh nhân (amygdala).
Thật ra, chúng ta có đến 2 hồi hải mã nằm ở hai bên của não. Hồi hải mã có vai trò thiết yếu trong việc tạo kí ức mới về những sự kiện đã trực tiếp trải nghiệm, cung cấp một bức ảnh có chiều không gian, tri thức và - ít nhất là trong trường hợp loài người - ngôn từ để đem lại ý nghĩa cho những phản ứng cảm xúc của chúng ta. Những ai bị chấn thương vật lý ở vùng não này sẽ gặp khó khăn trong việc tạo ký ức mới. Họ có thể nhớ được tất cả những gì xảy ra trước khi vùng hồi hải mã bị chấn thương nhưng sau thời điểm chấn thương thì dù gặp gỡ bất cứ ai hay xảy ra bất kỳ việc gì họ cũng quên đi ngay trong chốc lát. Vùng hồi hải mã cũng là một trong những vùng của não bị tác động trước nhất bởi bệnh Alzheimer cũng như các bệnh tâm thần khác, như tâm thần phân liệt, bệnh trầm cảm nghiêm trọng hay bệnh rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder).
Phần thứ hai đáng chú ý trong vùng hệ biên hay viền não là hạch hạnh nhân (amygdala) - một cấu trúc tập hợp các nơ-ron có dạng như quả hạnh nhân nằm dưới đáy vùng hệ biên ngay bên trên cuống não. Cũng giống như hồi hải mã, trong bộ não người có đến hai hạch hạnh nhân: một ở bán cầu não phải và một ở bán cầu não trái. Hạch hạnh nhân có vai trò thiết yếu cả trong việc cảm nhận cảm xúc và tạo kí ức cảm xúc. Nghiên cứu cho thấy rằng khi hạch hạnh nhân bị hủy hoại hay cắt bỏ sẽ dẫn đến mất đi hầu như tất cả những khả năng phản ứng cảm xúc, bao gồm cả những phản xạ cơ bản nhất như sợ hãi hay cảm thông, đồng thời khả năng thiết lập hay nhận biết các mối quan hệ xã hội cũng mất luôn.
Hạch hạnh nhân và hồi hải mã đóng vai trò quan trọng với cảm giác hạnh phúc của chúng ta. Vì hạch hạnh nhân kết nối với hệ thống thần kinh tự điều phối, một vùng trong cuống não có chức năng tự động điều phối các phản ứng của cơ bắp, nhịp tim và các tuyến hạch, và vùng dưới đồi (hypothalamus). Một cấu trúc tập hợp các nơ-ron nằm dưới phần đáy vùng hệ biên (hay viền não) có chức năng tiết vào máu chất adrenalin và những nội tiết tố (hóc môn) khác nên những kí ức cảm xúc mà hạnh nhân tạo ra vô cùng mãnh liệt và có liên kết với những phản ứng sinh học và hóa học rất quan trọng.
Khi một khi một sự kiện xảy ra kích thích một phản ứng sinh lý mạnh mẽ, chẳng hạn như làm tiết ra một lượng lớn các nội tiết tố khác - vùng hồi hải mã sẽ gửi một tín hiệu xuống vùng cuống não và tín hiệu này sẽ được lưu trữ lại tại đây như một mô thức mẫu. Kết quả là nhiều người có khả năng nhớ là chính xác họ đang ở đâu và xung quan họ xảy ra những gì (vào lúc có một sự kiện quan trọng xảy ra). Chẳng hạn như khi họ nghe nói đến hay chứng kiến những thảm nạn phi thuyền không gian, hay vụ ám sát tổng thống Kennedy. Những mô thức cùng loại có thể được lưu trữ khi có những kinh nghiệm thiên về cá nhân hơn về một bản chất được xem là rất tốt hay rất xấu.
Vì những ký ức như thế thế và mô thức tương ứng với chúng là quá mạnh mẽ nên chúng có thể dễ dàng bị kích hoạt bởi những biến cố về sau nếu có sự tương đồng nào đó đó - đôi khi là rất ít - so với ký ức ban đầu. Loại phản ứng mãnh liệt từ ký ức này hiển nhiên mang lại lợi ích quan trọng cho sự sống còn chứa những hoàn cảnh đe dọa tính mạng. Nó cho phép nhận biết và tránh dùng các thức ăn đã từng gây bệnh cho ta, hay tránh đối đầu với những con thú hoặc ngay cả những con người đặc biệt hung dữ; nhưng đồng thời nó cũng có thể che lấp hoặc làm lệch lạc đi nhận thức về những kinh nghiệm thông thường hơn. Thí dụ những đứa trẻ thường xuyên bị cha mẹ hay những người lớn khác la mắng, quở trách, thì khi trưởng thành rồi có thể cảm thấy một nỗi sợ hãi tức giận hay những cảm xúc khó chịu khác một cách mạnh mẽ thái quá khi tiếp xúc với những nhân vật có quyền thế.
Những phản ứng lệch lạc này thường là kết quả của một phương thức liên kết không chính xác mà vùng hạch hạnh nhân đã dựa vào để kích hoạt một phản ứng từ ký ức. Một yếu tố nổi bật trong hoàn cảnh hiện tại tương tự với một yếu tố trong kinh nghiệm quá khứ có thể khơi dậy toàn bộ những suy tưởng, cảm xúc cùng với những phản ứng cơ bắp hay sản sinh nội tiết tố, vốn đã được lưu trữ kèm theo với những kinh nghiệm quá khứ đó.
Những hoạt động của vùng hệ biên - đôi khi cũng được gọi là vùng não cảm xúc - được quân bình một phần rất lớn nhờ vào lớp não thứ 3, là lớp não phát triển gần đây nhất: lớp vỏ não mới (neocortex). Lớp nào này là đặc trưng ở động vật có vú, cung cấp khả năng lý luận, hình thành khái niệm, lập kế hoạch và điều chỉnh các phản ứng cảm xúc. Mặc dù lớp não này khá mỏng ở hầu hết các loài động vật có vú, nhưng nếu bạn có dịp chứng kiến một con mèo đang tìm cách mở cánh cửa tủ, hay một con chó cố gắng làm xoay tay nắm cửa, đó là bạn đã bắt quả tang hoạt động của lớp vỏ não mới nơi một con vật.
Ở loài người và những động vật tiến hóa cực cao, lớp vỏ não mới đã phát triển thành một cấu trúc lớn hơn và phức tạp hơn nhiều. Hầu hết chúng ta khi nghĩ tới bộ não thì thường chính là cấu trúc này, với nhiều đường lồi lõm và các nếp gấp, hiện ra trong tâm trí ta. Trong thực tế, nếu không có những đường lồi lõm và các nếp gấp này, chúng ta sẽ không thể hình dung ra não bộ, bởi chính lớp vỏ não mới to lớn này đã giúp ta có khả năng tưởng tượng cũng như sáng tạo, nhận hiểu và sử dụng các biểu tượng. Cũng chính lớp vỏ não này đã dạy cho chúng ta khả năng sử dụng ngôn ngữ, chữ viết, âm nhạc và nghệ thuật. Lớp vỏ não mới của chúng ta chính là trung tâm của những hoạt động lý trí, bao gồm việc giải quyết vấn đề, phân tích phán đoán, kiểm soát các phản xạ, cũng như khả năng tổ chức thông tin, học hỏi từ kinh nghiệm và sai lầm trong quá khứ, cho đến khả năng cảm thông với người khác..
Có vẻ dường như mỗi một ý tưởng, tình cảm, hay cảm giác hay kinh nghiệm đều liên quan đến một loạt các tương tác đặc thù thường liên quan đến những vùng não không bị kích hoạt bởi những loại ý tưởng khác. Có những vùng não khác nhau chịu trách nhiệm về những chức năng khác nhau như: thị giác, vị giác, khứu giác, vận động, v.v
2. Cơ chế hình thành thói quen tinh thần, hay niềm tin và quan điểm
Hầu hết hoạt động của não bộ dường như phát sinh từ 1 lớp tế bào rất đặc biệt được gọi là nơ-ron. Nơ-ron là những tế bào rất giỏi giao tế: chúng thích tán gẫu. Trên một vài khía cạnh, chúng giống như những học trò nghịch ngợm không ngừng trao đổi các mẫu tin nhắn và thì thầm trò chuyện với nhau. Chỉ khác là những câu chuyện bí mật giữa các nơron chủ yếu là về những cảm thọ, cử động, giải quyết vấn đề tạo kí ức, và sinh tư tưởng cảm xúc.
Những tế bào lắm chuyện này trông rất giống những cái cây, có một thân cây gọi là a-xon (sợi trục) hay là sợi trục, có những nhánh cây đưa ra để truyền và nhận những thông tin qua lại với những nhánh khác, hay những tế bào thần kinh khác chạy dọc theo các cơ bắp và các lớp mô biểu bì, các cơ quan sinh tồn và cơ quan thụ cảm. Chúng truyền tin cho nhau qua những khoảng cách nhỏ xíu giữa những nhánh gần nhau nhất gọi là xi-náp. Thông tin thực sự truyền đi qua những khoảng cách nhỏ này được truyền tải dưới dạng những phân tử hóa học gọi là ‘chất dẫn truyền xung động thần kinh’. Những chất dẫn truyền xung động thần kinh này tạo ra các xung điện có thể đo được nhờ một máy đo điện não đồ (EEG).
Một số trong các chất dẫn truyền xung động thần kinh hàng này ngày nay đã được rất nhiều người biết đến chẳng hạn như chất serotonin có ảnh hưởng trong bệnh trầm cảm; dopamine là một hóa chất đi kèm theo với cảm giác khoái lạc; và epinephrine thường được biết nhiều hơn với tên adrenaline, là một chất thường được cơ thể tạo ra để phản ứng với tình trạng căng thẳng lo âu và sợ hãi nhưng cũng là thíết yếu cho sự chú ý là cảnh giác. Thuật ngữ khoa học được dùng để gọi là sự truyền tải một tín hiệu hóa-điện từ nơ-ron này sang nơ-ron khác gọi là ‘xung điện thế hoạt động’, một thuật ngữ nghe chừng xa lạ đối với bạn.
Khi các nơ-ron kết nối với nhau, chúng hình thành một mối quan hệ gắn kết rất giống với tình bằng hữu thâm giao. Chúng rơi vào thói quen truyền cho nhau những tín hiệu cùng loại, cũng giống như những người bạn thân thiết có khuynh hướng luôn tán thành lẫn nhau trong sự phán đoán về người khác, về các sự kiện và kinh nghiệm. Mối quan hệ gắn kết này là nền tảng sinh lý học của rất nhiều trong số những điều mà chúng ta gọi là ‘thói quen tinh thần’, tức là những phản ứng theo kiểu ‘phản xạ đầu gối’ của chúng ta đối với một số loại người địa điểm hay sự vật.
Hãy lấy một ví dụ thật đơn giản, nếu còn rất nhỏ tôi đã từng bị một con chó làm cho sợ hãi thì trong não bộ tôi sẽ hình thành một nhóm các nơ-ron truyền tin cho nhau, một mặt tương ứng với cảm giác sợ hãi của cơ thể, và mặt khác tương ứng với khái niệm ‘chó rất đáng sợ’.
Sau đó khi tôi nhìn thấy một con chó, cùng nhóm các nơ-ron đó sẽ khởi động việc ‘tán gẫu’ với nhau giống như trước đó để nhắc nhở tôi là ‘chó rất đáng sợ’ và cứ mỗi lần sự truyền tin này diễn ra, chúng sẽ tăng cường độ mạnh mẽ hơn và thuyết phục hơn cho đến khi điều này trở thành một thói quen ăn sâu đến mức chỉ cần gửi tới chó thôi để tim tôi bắt đầu đập thình thịch và toàn thân toát mồ hôi vì sợ.
Giả sử có ngày nào tôi đến thăm một người bạn có nuôi chó. Ban đầu tôi có thể rất sợ khi gõ cửa và nghe tiếng chó sủa rồi con vật ấy nhẩy xổ ra ngoài để đánh hơi tôi. Sau một thời gian, con chó bắt đầu quen thuộc với tôi và chạy đến nằm dưới chân hay nhảy vào lòng tôi, thậm chí có thể là nó bắt đầu liếm vào người tôi một cách sung sướng và trìu mến đến nỗi từ buộc phải đẩy nó ra xa.
Chuyện xảy ra trong não bộ con chó là: có một nhóm các nơ-ron truyền tin cho nhau tương ứng với mùi cơ thể của tôi cùng với tất cả những cảm giác cho họ biết là chủ nó mến tôi tạo thành một mô thức có ý nghĩa tương đương như: ‘Af, người này thật đáng mến!’ Trong khi đó trong não tôi thì một nhóm nơ-ron mới tương ứng với những cảm giác dễ chịu của cơ thể để bắt đầu truyền tin cho nhau, và tôi sẽ bắt đầu nghĩ ‘À, coi vậy mà chó cũng dễ thương đấy chứ!’
Mỗi lần tôi đến thăm bạn, mô thức mới này sẽ được củng cố và mô thức cũ sẽ yếu dần đi - cho đến cuối cùng thì tôi không còn sợ chó nữa. Thuật ngữ khoa thần kinh học gọi khả năng thay thế các nhóm liên kết nơ-ron cũ bằng các nhóm mới là tính chất ‘có thể thay thế’ của não bộ. Điều quan trọng nhất ở đây là, chỉ xét riêng trên bình diện tế bào, những kinh nghiệm được lặp lại nhiều lần có thể làm thay đổi cách hoạt động của não bộ.
Cho đến nay, khoa học hiện đại - dù là sinh vật học, vật lý học, tâm lý học hay thần kinh học - vẫn chưa tìm ra được một vùng riêng lẻ não trong não bộ chịu trách nhiệm chỉ huy tổng thể hàng loạt những tương tác phức tạp đó. Giống như một dàn giao hưởng không có nhạc trưởng vậy. Vì vậy, họ quay sang khám phá nguyên lý và cơ chế đã giúp cho hàng tỷ nơ-ron trải đều trong khắp não bộ có thể phối hợp với nhau một cách hài hòa. Và trong công cuộc tìm kiếm này, ngành vật lý học hiện đại với thuyết cơ học lượng tử mới mẻ đã tìm được tiếng nói chung với Phật giáo - một tôn giáo có lịch sử hàng ngàn năm.
Kết luận
Những kiến thức trên cho phép chúng ta đi đến những kết luận sau:
1) Nhận thức và hiểu biết về cái tôi không phải việc riêng của não bộ. Nó vượt ra ngoài não bộ.
2) Các chức năng liên quan đến cảm xúc và trực giác không phải là chức năng riêng biệt của não phải mà nằm ở cả hai vùng não.
3) Cảm xúc và cảm giác của chúng ta trước một sự việc không phải là bản chất sự kiện tức thời đem lại, mà bị chi phối bởi rất nhiều ký ức và kinh nghiệm quá khứ của từng cá nhân. Những ký ức và kinh nghiệm tuổi thơ (nhất là trước 3 tuổi) thường tác động mạnh hơn và khó thay đổi.
4) Tất cả thói quen tinh thần của chúng ta - niềm tin, giá trị quan điểm sống - của chúng ta chỉ là những mô thức thần kinh. Chúng hoàn toàn có thể thay đổi khi chúng ta lặp lại kinh nghiệm mới nhiều lần trong một bối cách mới để tạo mô thức liên kết thần kinh mới.
5) Để hạn chế những tác động không mong muốn của cảm xúc, chúng ta cẩn luyện tập để hình thành thói quen quan sát cảm xúc, suy nghĩ của mình một cách khách quan bằng nhận thức lý trí.
Trong bài sau, chúng ta sẽ khám phá những nhận định chung về cái Tôi được sự đồng thuận của khoa học hiện đại và Phật giáo.




Comments